Dự án IMOLA > Hoạt động > Khảo sát môi trường > Đánh giá tác động lũ lụt

Lũ lụt ở Việt Nam là hiện tượng phổ biến và diễn ra trên khắp các vùng miền đất nước, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Mêkông và đồng bằng sông Hồng. Người dân ở những vùng này đã phải học cách sống chung với lụt, đặc biệt là những người có sinh kế phụ thuộc vào chức năng sản xuất của lũ lụt hàng năm. Văn hoá Việt Nam thường nhắc đến và không thể quên những cơn lụt lớn trong lịch sử, vì tổ tiên dân tộc Việt Nam xem lụt lội là một trong bốn hiểm hoạ lớn nhất đối với con người, trong số đó có hoả hoạn, cướp bóc và xâm lăng.

Thực tế là do tác động tiêu cực của lụt lội quá lớn nên trong khi lập kế hoạch ứng phó lũ lụt, người ta thường không đánh giá đúng mức hoặc thậm chí không xét đến ích lợi của lụt. Thực ra, lụt là một phần quan trọng trong các hệ nông nghiệp và sinh thái, vì nhờ có lụt mà mùa màn, cây cối và đời sống sinh vật phát triển. Vì thế, điều quan trọng ở đây là Việt Nam cần điều chỉnh chiến lược quản lý lụt hiện nay của đất nước để một mặt bảo vệ sinh kế của người sống nhờ vào các cơn lụt hàng năm, và mặt khác hạn chế thiệt hại tài sản và kinh tế do lũ lụt gây ra.

Để đánh giá tác động của các cơn lụt xảy ra hàng năm ở khu vực đầm phá, dự án IMOLA đã tiến hành một nghiên cứu cụ thể tại sáu khu vực điểm tại đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Các điểm điều tra và các những người được phỏng vấn (người dân) được chọn theo vị trí địa lý, tình hình kinh tế và hoạt động sinh kế chính. Bốn xã tiến hành điều tra (Phú An, Hải Dương, Vinh Hiền và Quảng Phước) đã được yêu cầu cung cấp danh sách của tất cả các hộ dân sinh sống trên toàn xã cùng với các thông tin kèm theo như vị trí thôn, hoạt động sinh kế chủ yếu và tình hình kinh tế. Các hộ trong danh sách này có mức sống khác nhau từ nghèo, trung bình và khá giả. Các hộ trong danh sách này được chọn phỏng vấn một cách ngẫu nhiên. 401 phiếu điều tra đã được thu lại, trung bình 100 phiếu mỗi xã.

Nghiên cứu đã chỉ ra bốn thách thức lớn đối với việc quản lý nguy cơ lụt lội ở tỉnhThừa Thiên Huế, đó là: (i) những thay đổi của thời kỳ quá độ lên nền kinh tế thị trường; (ii) môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng; (iii) ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; và (iv) và hiệu quả thấp của các biện pháp giảm nhẹ nguy cơ lũ lụt truyền thống.

Nghiên cứu còn cho thấy tai họa lũ lụt không đơn thuần chỉ là thiên tai mà nguyên nhân của nó còn nằm ở những yếu kém xã hội. Nghiên cứu cũng cho thấy mặc dù lũ lụt gây ra nhiều mất mát và thiệt hại (thường hạn chế phát triển kinh tế), nhưng nó cũng là yếu tố cần thiết đối với sinh kế của đa phần dân cư ven biển tại đầm phá. Sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển phụ thuộc vào chức năng hữu ích của lụt theo chu kỳ. Vì thế, theo thời gian, các cộng đồng dân cư này đã xây dựng được cơ chế chống chọi với lụt để giảm thiểu tác động tiêu cực và tận dụng ảnh hưởng có lợi của nó. Đáng tiếc là các cơ chế đối ứng phó này phải chịu áp lực do môi trường xuống cấp và sự phát triển của môi trường xung quanh đầm phá một cách thiếu hợp lý. Những áp lực này càng gia tăng từ khi Việt Nam chuyển từ nên kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Hơn nữa, Việt Nam đã chịu nhiều tác động ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên cần phải xây dựng một phương pháp quản lý nguy cơ lũ lụt tổng hợp trong đó bao quát hết những phát hiện chính trên đây, một mặt nhằm tận dụng tối đa tác động có lợi của lũ lụt hàng năm và giảm thiếu thiệt hại về kinh tế-xã hội trong vùng.

Phỏng theo “Quản lý nguy cơ lũ lụt ở miền trung Việt Nam: Cơ hội và thách thức” của các ông: Trần Phóng, Fausto Marincioni, Rajib Shaw, Massimo Sarti, Lê Văn An,

Báo cáo liên quan:

♦ Đánh gía tác động lũ lụt hàng năm, phát triển chiến lược và công cụ ở đầm phá TGCH - Báo cáo Tiến độ (L.V.An & H.D.T.Hoàng, tháng 3, 2007)
♦ Đánh giá tác động lũ lụt hàng năm, phát triển chiến lược và công cụ ở đầm phá TGCH - Báo cáo Tổng kết (L.V.An & H.D.T.Hoàng, tháng 8, 2007)
♦ Tác động của biến đổi khí hậu, kiến thức truyền thống và chiến lược ứng phó của người dân địa phương trong việc giảm thiểu ảnh hưởng lũ lụt (L.V.An & H.D.T.Hoàng, tháng 8, 2007)